Giới thiệu nhà thơ trào phúng Tú Mỡ

Pen and Journal photo by willmilne on Envato Elements

Giới thiệu nhà thơ trào phúng Tú Mỡ

Nhà thơ trào phúng Tú Mỡ, sinh ngày 14.3.1900, mất ngày 13.7.1976, tên thật là Hồ Trọng Hiếu. Bút danh khác: Bút Chiến Đấu. Quê gốc: Hà Nội, sinh ra trong một gia đình làm nghề thủ công, sau bị sa sút. Khi còn nhỏ học chữ Hán với ông nội, sau học chữ quốc ngữ, ông thi đỗ bằng thành chung, rồi làm Thư ký cho Sở tài chính đến Cách mạng tháng Tám I945. Tú Mỡ có năng khiếu hài hước từ nhỏ. Từ 1926, ông bắt đầu đăng thơ trên Việt Nam thanh niên tạp chí và Tứ dân tạp chí. Năm 1932, ông tham gia Tự lực văn đoàn và phụ trách mục Dòng nước ngược trên các tờ Phong hóa và Ngày nay. Tú Mỡ bắt đầu nổi tiếng từ đó. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên chiến khu, dùng ngòi bút đánh địch, tuyên truyền, động viên nhân dân chiến đấu. Năm 1951, ông được Giải Nhất thơ – ca của Hội văn nghệ Việt Nam. Năm 1952, ông tham dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc, được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Năm 1956, ông được Giải Nhì thơ ca của Hội văn nghệ Việt Nam. Nhà thơ – đã từng là Phó chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên BCH Hội nhà văn Việt Nam khóa I và khóa II. “

Tác phẩm nhà thơ trào phúng Tú Mỡ

Các tác phẩm đã xuất bản : Dòng nước ngược (2 tập – 1943), Địch vận diễn ca (1949), Nụ cười kháng chiến (thơ trào phúng – 1952), Tấm Cám (truyện thơ – 1955), Nụ cười chính nghĩa (thơ trào phúng – 1958), Bút  chiến đấu (thơ trào phúng – 1960), Đòn bút (thơ trào phúng – 1962), Ông và cháu (thơ – 1970), Thơ Tú Mỡ (thơ tuyển – 1971).

 Là thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng hướng sáng tác của Tú Mỡ sớm có quan điểm tích cực, tiến bộ. Bất bình trước hiện thực xã hội, với khả năng quan sát tỉnh tế và năng khiếu hài hước, nhà thơ chủ trương làm thơ trào phúng để vạch ra sự thối nát và bất công của xã hội thực dân phong kiến. Những tác phẩm của ông trong thời kỳ này mang tính thời sự, châm biếm, đả kích vào bọn quan lại bám gót thực dân. Với những bài văn vần đăng trên mục Dòng nước ngược, Tú Mỡ thẳng tay vạch ra bộ mặt thật của bọn quan lại chuyên nịnh hót thực dân để thăng quan, tiến  chức, đục khoét của dân, ăn chơi xa xỉ. Đó là những tên quan huyện, quan phủ, bọn “nghị càn, nghị gật, nghị câm” trong cái gọi là “Viện dân biểu” do bọn thực dân lập ra để làm bù nhìn cho chúng. Tú Mỡ cũng viết nhiều bài thơ rất hóm hỉnh giễu cợt những thói rởm đời của nhiều nhân vật đô thị và những tập tục lạc hậu, hủ bại ở chốn hương thôn… Đối với nhân dân, ông chưa có được cái nhìn gần gũi. Nhưng với một nội dung như đã kể trên, được thể hiện bằng nghệ thuật thơ trào phúng linh hoạt, từ ngữ vừa bình dân vừa tỉnh luyện, Dòng nước ngược đã trở thành một tập thơ trào phúng có giá trị, góp vào thành tựu chung của văn học hiện thực phê phán 1930-1945.

Đến những năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Tú Mỡ hăng hái, nhiệt tình, tiếp tục phát huy nghệ thuật trào lộng, châm biếm, tập trung đánh vào bọn Việt gian bán nước như “Quốc trưởng” Vĩnh Thụy trong Nụ cười kháng chiến và bọn tướng tá của đội quân xâm lược Pháp. Nhà thơ còn sáng tác để ca ngợi những hành động dũng cảm vì nước quên mình của quân dân ta… Giọng thơ của Tú Mỡ trong giai đoạn này có cái sảng khoái, lạc quan của một dân tộc đầy tính thần chiến đấu và chiến thắng. Những tác phẩm chính của Tú Mỡ thời kỳ này : Địch vận diễn ca (1949), Nụ cười kháng chiến (1952), Anh hùng vô tận (1952). Những năm chống Mỹ, Tú Mỡ tiếp tục làm những bài thơ châm biếm, đả kích bọn đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai, phê phán một số hiện tượng tiêu cực của xã hội ta trong các tập Nụ cười chính nghĩa (1958), Bút chiến đấu (1960), Đôn bi (1962). Qua mấy chục năm sáng tác, ngòi bút Tú Mỡ vẫn giữ được cái hào hứng, hăng hái trong lao động sáng tạo. Cuối đời, ông còn làm thơ cho thiếu nhi, in trong tập Ông và cháu. Qua tập thơ này, người đọc còn thấy hiện lên từ sáng tác của ông một chân dung tác giả thật nhân hậu, chan chứa tình yêu thương. Đây cũng là một nét trong phong cách sống của nhà thơ : ông hay gần gũi những người lao động bình thường. Ông cũng thường vui vẻ, giảng giải thơ ca, tục ngữ cho các sinh viên ĐHSP khi họ đến thăm ông ở ngôi nhà riêng ở đầu đường Láng, bên đồng Tô :  Lịch, Hà Nội. , Tú Mỡ là một nhà thơ đã cống hiến cả đời cầm bút của mình cho nghệ thuật trào phúng. Ông là cây bút tài năng và có sức viết đổi dào nhất trong dòng sông trào phúng ở nước ta thế kỷ XX này. 

Tham khảo thêm tư liệu các nhà văn, nhà thơ, tác giả khác

Viết một bình luận