Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khuyến

Dàn ý bài văn giới thiệu về tác giả Nguyễn Khuyến

1. Vài nét về tiểu sử, cuộc đời, những mốc quan trọng:

  •   Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), hiệu Quế Sơn, quê Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam. 
  •   Gia đình: Nhiều người đỗ đạt, làm quan to dưới triều Lê – Mạc. Đến đời cụ thân sinh thì nghèo túng.
  •   Đỗ đầu cá ba kì (Hương, Hội, Đình) nên được gọi là Tam nguyên Yên Đồ.
  •  Từng làm các chức quan dưới triều Nguyễn.
  •  Năm 1884, Nguyễn Khuyến xin về hưu, ở làng quê.

2. Sự nghiệp sáng tác, những tác phẩm chính, vài nét về một số tác phẩm tiêu biểu: 

  •  Về số lượng: Nguyễn Khuyến để lại hơn tám trăm tác phẩm.
  •  Vẻ thể loại: thơ, câu đối, hát nói (viết bằng chữ Hán và chữ Nôm).

3. Một số đặc điểm nội dung và nghệ thuật:

– Về nội dung:

  • Sáng tác của Nguyễn Khuyến thể hiện tâm sự yêu nước, u hoài trước sự đổi thay của thời cuộc.
  • Khắc họa đậm nét khung cảnh làng quê và tâm tình của người nông dân.
  •  Trào phúng thâm thúy, sâu cay.

– Nghệ thuật thơ văn Nôm:

  • Sử dụng các thể văn chương quen thuộc: thất ngôn bát cú Đường luật câu đối, hát nói, song thất lục bát, thể nào cũng thành công.
  • Đưa tiếng nói sinh hoạt, dân dã, bình dị vào các câu thơ truyền thống một cách tỉnh tế, sâu sắc, tự nhiên, hóm hỉnh.
  • Đưa nhiều tục ngữ, thành ngữ, từ láy.. khiến lời thơ giàu chất tạo hình, gợi cảm.
  • Sành bút pháp ước lệ truyền thống và bút pháp tả thực.

4. Những đóng góp của tác giả cho nền văn học nước nhà:

– Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn cuối cùng của thời trung đại.

– Ông được mệnh danh là nhà thơ của dân tình và làng cảnh Việt Nam.

Đọc thêm các bài phân tích văn mẫu lớp 10

Bài làm văn mẫu

Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh là những áng thơ thu tuyệt bút khắc ghi tên tuổi của một tác gia văn học trung đại nổi tiếng cuối thế kỉ XIX. Tác giả đó chính là Nguyễn Khuyến.

Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) hiệu Quế Sơn, quê ở làng Và, xã Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình có nhiều người đỗ đạt, làm quan to dưới triều Lê – Mạc. Nhưng đến đời cụ thân sinh ra Nguyễn Khuyến thì lại nghèo túng.

Năm 1864, Nguyễn Khuyến thi Hương đỗ Giải nguyên. Năm 1871, ông thi Hội lần thứ hai đỗ Giải nguyên, thi Đình đỗ Đình Nguyên. Do đỗ đầu cả ba kì nên Nguyễn Khuyến được gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Sau khi thi đỗ, ông đã lần lượt làm các chức quan ở triều đình Huế, ở Thanh Hóa, Quảng Ngãi.

Năm 1883, thực dân Pháp chiếm Sơn Tây, Nguyễn Khuyến được làm Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên nhưng ông không nhận chức. Năm 1884, lấy cớ đau mắt ông xin về hưu. Ông sống ở làng quê hai mươi lăm năm và mất năm 1909.

Sinh thời, Nguyễn Khuyến viết rất nhiều thơ văn. Ông để lại hơn tám trăm tác phẩm gồm thơ, câu đối, văn viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Sáng tác của Nguyễn Khuyến trước hết thể hiện tâm sự yêu nước  hoài trước sự đổi thay của thời cuộc. Đó là sự mặc cảm bởi bất lực trước hiện tình đất nước:

Vốn không thực học phù đời loạn,

Uổng chút hư danh đỗ đại khoa.

(Cận thuật)

Đó là sự đối lập gay gắt “thực học” với “hư danh”:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!

(Tiến sĩ giấy)

– Đó là ý thức về sự vô nghĩa của việc làm quan dưới ách đô hộ: :

Vua chèo còn chẳng ra gì

Quan chèo vai nhọ khác chỉ thằng hề.

(Lời vợ người hát chèo)

Đó là ý chí giữ trọn danh tiết trong thời loạn trong Mẹ Mốc, Anh giả điếc, Di chúc:

Đề vào mấy chữ trong bia

Rằng: Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu.

Và đó là nỗi buồn khắc khoải của một người dân mất nước:

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?

(Cuốc kêu cảm hứng)

Thơ văn Nguyễn Khuyến không chỉ thể hiện nỗi lòng, tâm sự trước thời cuộc mà còn thể hiện cảm xúc của nhà thơ trước dân tình làng cảnh Việt Nam. Đến Nguyễn Khuyến, lần đầu tiên đời sống nông thôn Việt Nam mới thực sự đi vào văn học. Nguyễn Khuyến viết nhiều về thiên nhiên với ngòi bút ấm áp, bình dị. Đó là cảnh trong Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh bình dị mà rất nên thơ:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, 

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

(Thu điếu)

Đó là cảnh lụt hết sức sinh động, chân thực trong Vịnh lụt:

Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách

Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà.

Đó là những cảnh hết sức quen thuộc, bình yên ở thôn quê Việt Nam:

Trâu già gốc bụi phì hơi nắng

Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người.

(Đến chơi nhà bác Đặng)

Hiện lên trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là những khung cảnh làng quê mà còn là nỗi niềm tâm sự rất chân tình của “người quê”. Có khi nhà thơ nhập thân vào chính người nông dân để giãi bày nỗi khốn khó:

Năm nay cày cấy vẫn chân thua, 

Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa

Phân thuế quan Tây, phần trả nợ, 

Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,

Chợ búa trầu chè chẳng dám mua. 

(Chốn quê)

Sở đi Nguyễn Khuyến có thể hiểu những tâm sự đó là bởi ông không chỉ sống bên những người nông dân mà ông còn sống như họ. Một mệnh quan triều đình về hưu nhưng đã chủ động lựa chọn một cuộc sống của những người dân nghèo, cũng đào ao nuôi cá, rào giậu nuôi gà, cũng trồng rau quả:

Ao sâu nước cả khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.

Cải vừa ra cây cà mới nụ,

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

(Bạn đến chơi nhà)

Và chính con người ấy, con người tưởng chừng như chỉ biết vui buồn với làng quê thanh đạm cũng chính là con người hết sức sâu sắc, thâm thúy khi dám tự cười vào cái danh vọng của mình:

Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ

Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.

(Tự trào)

Dám chế giễu những hiện tượng nhố nhăng đương thời:

 – Cũng cờ cũng biển cũng cân đi,

 Cũng gọi ông nghè có kém đi.

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, 

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!

(Tiến sĩ giấy)

– Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,

Thằng bé lom khom nghé hát chèo. 

Cậy sức cây đu nhiều chị nhún

Tham tiền cột mỡ lắm anh leo. .

 (Hội Tây)

Cùng với những nội dung tư tưởng trên, thơ văn Nguyễn Khuyến còn thể hiện một nghệ thuật bậc thầy, đặc biệt là các sáng tác bằng chữ Nôm. Có thể thấy Nguyễn Khuyến sử dụng các thể văn chương thất ngôn bát cú Đường luật, câu đối, hát nói, song thất lục bát rất nhuần nhuyễn. Cũng chính ông đã đưa tiếng nói sinh hoạt, dân dã, bình dị vào các câu thơ truyền thống một cách tỉnh tế, sâu sắc, nhiều khi hóm hỉnh, tự nhiên mà thành thơ. Nhiễu bài điêu luyện, không còn chút dấu vết nào của niêm luật gò bó. Nhiều tác phẩm sử dụng tục ngữ, thành ngữ, từ láy.. giàu chất tạo hình, gợi cảm (Vịnh lụt, Chốn quê, Bạn đến chơi nhà, Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh, Tự trào, Tiến sĩ giấy, Khóc Dương Khuê…

Với một số lượng sáng tác khá đồ sộ, những thành công to lớn trong sáng tạo nghệ thuật và những tâm tư, tình cảm sâu sắc, Nguyễn Khuyến xứng đáng là một trong những nhà thơ lớn cuối cùng của thời trung đại. Đặc biệt, với những tác phẩm viết về cảnh sống bình dị, ấm áp ở thôn quê, Nguyễn Khuyến đã trở thành nhà thơ của dân tình và làng cảnh Việt Nam.

Xem thêm các bài viết của tác giả Nguyễn Khuyến

Viết một bình luận