Khoảng trống mà Nguyễn Du để lại cho văn học Việt Nam nếu không có Truyện Kiều

Dàn ý tầm quan trọng của Truyện Kiều  – Nguyễn Du đối với nền văn học Việt Nam

  1. Giải thích.

– “Khoảng trống”: giá trị của tác phẩm (Truyện Kiều).

– Văn học Việt Nam thiếu đi Truyện Kiều tức là thiếu đi một kiệt tác, một tài năng, tâm huyết.

->  Đánh giá cao vị trí của Truyện Kiều trong văn học Việt Nam.

  1. Chứng minh

        2.1. Giá trị hiện thực 

– Liên hệ so sánh với văn học đương thời, các sáng tác: Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều; Chính phụ ngâm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm…

– Truyện Kiều có sức phản ánh sâu rộng hơn. Qua tác phẩm, ta có thể hiểu được một cách toàn diện, sâu sắc hiện thực xã hội thời Nguyễn Du sống.

        2.2. Giá trị nhân đạo 

– Cảm hứng bao trùm toàn bộ tác phẩm là cảm hứng về thân phận con người.

– Ca ngợi con người (nhan sắc, phẩm chất tốt đẹp).

– Cảm thông sâu sắc với nỗi đau khổ của con người.

– Phản ánh ước mơ cháy bỏng của con người về hạnh phúc và về công lí, tự do.

       2.3. Giá trị nghệ thuật

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật. .

– Ngôn ngữ tác phẩm: phong phú, chính xác, đẹp đẽ.

– Nghệ thuật tự sự và trữ tình bằng thơ lục bát.

  1. Đánh giá

– Nguyễn Du là nhà thơ có tâm huyết và tài năng thực sự. VỊ trí của Nguyễn Du và giá trị của Truyện Kiều chắc chắn không gì có thể thay thế được.

Đọc thêm các bài phân tích văn mẫu mới 10 

Bài làm văn mẫu

Có một cách rất hay để chúng ta nhận ra giá trị của một thứ gì đó, đó là hình dung nó không còn tổn tại. Và nếu làm phép thử với tác phẩm văn học như Truyện Kiều (Nguyễn Du), chúng ta sẽ nhận được một “khoảng trống” không thể bù đắp cho văn học Việt Nam.

Nói đến “khoảng trống” là nói đến sự thiếu khuyết để lại. Văn học Việt Nam sẽ ra sao, sự thiếu khuyết nào sẽ còn lại nếu không có Truyện Kiều? Câu hỏi đó hàm ý nhắc nhở chúng ta về giá trị của một kiệt tác văn học thể hiện thái độ trân trọng, đánh giá cao vị trí của Truyện Kiều trong văn học dân tộc.

Lâu nay, chúng ta thường dành những lời nhận xét hay nhất, đẹp nhất cho Truyện Kiều: “Truyện Kiều” chỉ kém Kinh Thánh trong việc chinh phục lòng tin của cuộc đời (Đặng Thai Mai), Truyện Kiều là khúc Nam âm tuyệt xướng (Đào Nguyên Phổ), Truyện Kiều là tập đại thành về nghệ thuật của văn học Việt Nam.. Những lời ngợi ca đó thực không hề phóng đại bởi chứa đựng trong Truyện Kiều là những giá trị tư tưởng nghệ thuật hết sức đẹp đẽ.

Như chúng ta đã biết, cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, văn học trung đại Việt Nam nổi bật lên các sáng tác mang đậm giá trị hiện thực như Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều), Chỉnh phụ ngâm (Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm , Sơ kính tân trang (Phạm Thái), thơ Hồ Xuân Hương.. Nhưng nếu như Nguyễn Gia Thiều chỉ biết đến những hạng người trong cung cấm, Chỉnh phụ ngâm nói về người phụ nữ có chồng ra trận, Hồ Xuân Hương quan tâm đến người phụ nữ bình dân thì với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã hướng cái nhìn của mình đến nhiều hạng người trong xã hội cũ: quan lại, sai nha, lũ buôn thịt bán người, nho sinh, nhất là những người con gái hồng nhan đa truân. Tác phẩm tập trung làm nổi bật nỗi khổ của những con người lương  thiện và bày có sự quan tâm đặc biệt đến vận mệnh con người mà tiêu biểu là nhân vật Vương Thuý Kiều. Thúy Kiều là người con gái tài sắc,sinh ra một gia đình trung lưu, có tình yêu và khát vọng hạnh phúc cuộc đời nàng lại lắm nỗi truân chuyên. Gia đình lâm nạn,  nàng phải bán mình chuộc cha rồi lọt vào tay bọn buôn thịt bán người phải làm vợ lẽ, đi tu. Trong suốt mười lăm năm lưu lạc, nàng luôn bị hành hạ về thể xác, chà đạp không thương tiếc về tỉnh thần, trở thành nạn nhân của chế độ xã hội xã hội bất công, bạo tàn.

Không chỉ phơi bày số bày thê thảm của con người lên trên trang giấy, trong sáng tác của mình Nguyễn Du còn thể hiện một thái độ tố cáo gay gắt các thế lực phi nhân tính đã chà đạp lên quyền sống của con người. Nếu như Cung oán ngâm khúc tố cáo chế độ phong kiến chà đạp lên quyền sống người phụ nữ, Chinh phụ ngâm phê phán chiến tranh phong kiến phi nghĩa tước đi hạnh phúc lứa đôi thì sức tố cáo của Truyện Kiều còn phổ quát hơn thế.. Qua hiện thực số phận Thuý Kiều, nhà thơ muốn tố cáo cả xã hội phong kiến mà tiêu biểu là bọn người tàn ác và thế lực đồng tiền, chúng đã hợp lực, đẩy nàng xuống bùn đen xã hội. Đó là thằng bán tơ, là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, là những tên quan xử kiện, là Hoạn Thư, là Bạc Bà, Bạc Hạnh, là Hồ Tôn Hiến… Đó là đồng tiền với sức hủy hoại ghê gớm:

– Trong tay đã sẵn đồng tiền,

Dù lòng đổi trắng thay đen khó gì.

– Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong.

Nói chung, Truyện Kiều đã gom lại trong nó rất nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội như quyền lực phong kiến, sức mạnh của đồng tiền, thân phận con người… Qua tác phẩm, ta có thể hiểu được một cách toàn diện, sâu sắc hiện thực xã hội thời Nguyễn Du sống. Vậy nên, mặc dù câu chuyện Nguyễn Du kể lại là câu chuyện của hiện thực xã hội thời Minh, của không gian Trung Quốc nhưng sức phản ánh của nó đã vượt không gian, thời gian và cho đến tận bây giờ vẫn còn giữ nguyên giá trị.

Đi liền với ý nghĩa phản ánh hiện thực, Truyện Kiều còn chứa đựng một giá trị nhân đạo lớn lao. Đọc tác phẩm, có thể thấy cảm hứng bao trùm toàn bộ tác phẩm là cảm hứng về thân phận con người. Nguyễn Du không tiếc lời ngợi ca chàng thư sinh chung tình Kim Trọng, người anh hùng chọc trời khuấy nước Tù Hải và đặc biệt là đấng giai nhân tuyệt thế, Vương Thúy Kiều, nhân vật trung tâm của truyện. Chỉ bằng một nét vẽ rất tài hoa, nhà thơ đã lột tả được nhan sắc, thần thái Thúy Kiều:

Làn thu thuỷ nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

Kiều không chỉ đẹp về dung nhan mà nàng còn là người con gái có đức hạnh vẹn toàn. Bởi hết lòng hiếu thuận nên nàng sẵn sàng bán mình chuộc cha:

Để lời thệ hải minh sơn,

Làm con trước phải đền ơn sinh thành.

Tham khảo các bài phân tích về Truyện Kiều

Và trong tình yêu, một người khát khao hạnh phúc tột bậc như Thúy Kiều cũng chính là người rất mực chung thủy. Cho nên khi buộc phải trao duyên cho Thúy Vân, nàng đã vô cùng tiếc nuối, đớn đau:

. – “Chiếc vành với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ, vật này của chung.”

– “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Viết Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật Thúy Kiều như hiện thân của những gì đẹp đẽ nhất, tính tuý nhất. Trong quan niệm của nhà thơ, nàng là mẫu người lí tưởng trong xã hội phong kiến.

Không chỉ ngợi ca, Nguyễn Du còn bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc với nỗi đau khổ của con người. Ngòi bút tác giả lặn sâu vào nỗi đau của nhân vật khắc hoạ trọn vẹn nỗi đau khổ của Thúy Kiều để viết nên những dòng thơ:

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,

Thêm hoa một bước lệ hoa mấy hàng (…)

Nét buồn như cúc điệu gầy như mai.

Hay:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

 

Sự đồng cảm này đúng là chỉ có ở trái tim biết yêu thương con người tha thiết mà thôi!

Bởi rất mực yêu thương, đồng cảm nên Nguyễn Du vô cùng trân trọng những ước mơ của cháy bỏng của con người. Truyện Kiều không chỉ là tiếng kêu thương mà còn là những ước mơ hết sức nhân văn. Đề Thúy Kiều Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình, đề im – Kiều tự đính ước, thề nguyền với nhau, Nguyễn Du đã nói thay bao lứa đôi, đặc biệt là nói thay cho bao thiếu nữ đới tuần cập kê bấy giờ tiếng nói khao khát được tự do yêu đương. Hay khi xây dựng Từ Hải, nhà thơ đã gửi gắm vào hình tượng nhân vật khát vọng công lí:

Anh hùng tiếng đã gọi rằng,

Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.

Có thể nói rằng lịch sử văn học bao giờ cũng là cuộc chạy tiếp sức của những tư tưởng lớn. Nguyễn Du đã kế thừa chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trước đó, từ văn học dân gian, thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… để rồi đến lượt mình, nhà thơ đã tiếp nối và thể hiện tư tưởng đó một cách đậm nét trong Truyện Kiều. Quả thực, nếu không có Truyện Kiều, mạch nguồn nhân đạo trong văn học Việt Nam sẽ bị đứt gãy và hiển nhiên các sáng tác văn học sau này không thể tiếp nối tư tưởng đó.

Không chỉ thành công trên phương diện nội dung tư tưởng, Truyện Kiều còn là tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp, được xây dựng công phu bởi tài năng nghệ thuật bậc thầy. Trong tiểu thuyết bằng thơ này, Nguyễn Du đã dùng công xây dựng nhân vật với hai tuyến chính điện và phản diện sắc nét, có ý nghĩa phản ánh mâu thuẫn xã hội. Tiêu biểu cho tuyến nhân vật chính diện là Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, vãi Giác Duyên.. Các nhân vật này thường được tác giả xây dựng bằng bút pháp lãng mạn. Ngược lại để khắc họa các nhân vật phản diện như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến… nhà thơ thường sử dụng bút pháp hiện thực. Các nhân vật trong Truyện Kiều hiện lên như những con người cá thể, có cuộc sống riêng, gây ấn tượng trong lòng người đọc. Tất cả những ai đã đọc thiên truyện này đều không thể quên được một Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn mà cuộc đời lại quá đỗi bi thương, không thể quên được một Từ Hải dọc ngang trời đất vẫy vùng bể khơi, càng không thể quên một tên buôn người chuyên nghiệp như Mã Giám 6inh, một kẻ chuyên lừa lọc như Sở Khanh, một người đàn bà có máu ghen khủng khiếp nhưng cũng khôn ngoan như Hoạn Thư.. Và những ấn tượng đó đã, đang và còn ở mãi trong tâm trí mọi người đọc Truyện Kiều là bởi nhà thơ đã rất tỉnh tế trong việc tạo dựng những nét điển hình cho các nhân vật của mình.

Không chỉ thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, Nguyễn Du còn rất tài tình trong việc sử dụng ngôn ngữ. Truyện Kiều có một kho từ vựng hết sức trong sáng, trau chuốt, chính xác. Truyện thơ được viết cách đây hai trăm năm nhưng đến tận bây giờ, những câu thơ với bao từ ngữ đẹp đẽ, hình ảnh gợi cảm như Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm

một vài bông hoa hay Tiếng sen đã động giấc hòe, Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.. vẫn còn rất mới mẻ.

Và hơn hết, có thể thấy Truyện Kiều là một mẫu mực của nghệ thuật tự sự và trữ tình bằng thơ lục bát. Nguyễn Du có biệt tài trần thuật và giới thiệu nhân vật một cách chính xác, cụ thể, gãy gọn, làm cho người đọc hiểu được ngay tình huống và tính cách, tâm trạng nhân vật. Chỉ bằng vài câu thơ, ông đã dựng được một phong cảnh mang hồn người. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chủ yếu trần thuật từ điểm nhìn nhân vật, làm cho sự việc, cảnh vật hiện lên trong cảm xúc và lời thơ như là lời bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của nhân vật. Đoạn trích trong Kiều ở lầu Ngưng Bích dưới đây cho chúng ta thấy rõ về điều đó:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là uê đâu.

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Lựa chọn thể thơ truyền thống của dân tộc để viết tiểu thuyết này, Nguyễn Du đã thoát khỏi hình thức mộc mạc, dân dã để đưa lục bát trở thành một hình thức trang nhã, cổ điển…

Với tất cả những đặc sắc nghệ thuật trên đây, Truyện Kiều xứng được coi là “tập đại thành” về nghệ thuật, là kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam.

Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Nguyễn Du, Truyện Kiều chỉ là một tác phẩm nhưng có thể khẳng định rằng cũng chỉ cần một sáng tác như thế thôi cũng đủ để vinh danh cho nhà thơ. Nếu thiếu đi Truyện Kiều, vẻ đẹp của văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung khó có thể tròn trịa, đầy đặn được.

Là cha đẻ của sáng tác có một không hai đó, Nguyễn Du thực đúng là nhà thơ có tâm huyết và tài năng. Vị trí của ống và giá trị của Truyện Kiều chắc chắn sẽ không gì có thể thay thế được .

Xem thêm các bài viết của tác giả Nguyễn Du

Viết một bình luận