Văn học trung đại Việt Nam qua 4 câu thơ của Huy Cận

Huy Cận từng viết:

Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững

Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa

Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng

Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa.

Những câu thơ trên có thể gợi cho anh (chị) hiểu thêm điều gì về nội dung của văn học trung đại Việt?  Hãy lựa chọn một vài tác phẩm tiêu biểu để làm sáng tỏ đặc điểm đó.

Dàn ý bài làm

  1. Giải thích 

– Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa: Hình ảnh các tác giả văn học, mỗi nghệ sĩ vừa là một người anh hùng trận mạc vừa là một người nghệ sĩ rất mực tài hoa.

– Sáng tác của họ phần lớn thể hiện hai giá trị nội dung lớn: giá trị hiện thực (trong và thật giữa hai bờ suy tưởng) và giá trị nhân đạo (sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa).

– Hình ảnh các tác giả và nội dung của văn học trung đại Việt Nam.

  1. Chứng minh

– Thời phong kiến, đất nước Việt Nam thường xuyên phải đối chọi với quân xâm lược phương Bắc. Các tác giả văn chương cũng chính là những người anh hùng trong công cuộc đấu tranh giữ nước. Sáng tác văn chương của họ đều phản ánh rất rõ không khí thời đại mình.

– Các sáng tác văn học thời đại Lí – Trần thể hiện rõ nét tấm lòng yêu nước của con người thời đại này: nỗi nhớ và niềm mong mỏi được trở về quê hương trong Quy hứng (Nguyễn Trung Ngạn).

– Tinh thần nhân văn, tư tưởng nhân nghĩa lớn lao: thái độ khẳng định, đề cao con người, đạo lí chính nghĩa trong Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu); tư tưởng nhân nghĩa trong Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi).

  1. Nhận xét, đánh giá

– Huy Cận đã nhận định một cách chính xác và tài hoa về nội dung thơ văn Việt Nam thời kì trung đại.

– Cảm nhận đó cũng chính là nền tảng cơ sở để nhà thơ và những thế hệ đi sau sẽ nối tiếp những nội dung tiêu biểu của văn học đất nước mình.

Đọc thêm các bài phân tích văn mẫu lớp 10

Bài làm văn mẫu

Trong một sáng tác của mình, nhà thơ Huy Cận viết:

 Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững

Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa

Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng

Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa

Với bốn câu thơ trên, Huy Cận đã khái quát được một cách khá đủ đầy về nội dung của văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học thời kì trung đại.

Có thể nói suốt bốn ngàn năm qua, lịch sử văn học Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Hình ảnh Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa là hình ảnh thật đẹp về các tác giả văn học. Từ Trần Quốc Tuấn đến Phạm Ngũ Lão, đến Nguyễn Trãi và cả sau này là Nguyễn Đình Chiểu… mỗi nghệ sĩ vừa là một người anh hùng trận mạc, luôn kiên định ý chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm vừa là một người nghệ sĩ rất mực tài hoa. Các sáng tác của họ phần lớn thể hiện hai giá trị nội dung lớn: giá trị hiện thực (trong và thật giữa hai bờ suy tưởng) và giá trị nhân đạo (sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà). .

Thời phong kiến, đất nước Việt Nam thường xuyên phải đối chọi với những đạo quân xâm lược phương Bắc. Hầu hết các thi sĩ cũng chính là những người anh hùng trong công cuộc đấu tranh giữ nước. Mỗi sáng tác văn chương của họ đều phản ánh rất rõ không khí thời đại mình. Có thể hình dung rõ điều này qua các sáng tác văn học thời đại Lí Trần. Từ Quốc tộ (Đỗ Pháp Thuận) đến Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão) đến Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu), Quy hứng (Nguyễn Trung Ngạn)… tất cả đều thể hiện rõ nét tấm lòng yêu nước của con người thời đại này. Yêu nước có khi là căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc đến cùng:

Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mờ đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham không cũng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng , để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau? Ta thường tới bữa quên ăn nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng… (Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn)

Yêu nước là tự hào khôn xiết về sức mạnh của con người, thời đại mình, tự hào trước những chiến công oanh liệt trước kẻ thù:

– Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.

(Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,

Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu)

(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)

– Đoạt sóc Chương Dương độ,

Cầm hồ Hàm Tử quan.

(Bến Chương Dương cướp giáo giặc,

Cửa Hàm Tử bắt quân thù.)

(Tụng giá hoàn kinh sư – Trần Quang Khải)

Yêu nước là hân hoan, vui sướng trước thế hưng thịnh của đất nước:

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lí thái bình.

(Vận nước như dây mây kết nối,

Trời Nam mở mang cảnh thái bình.)

(Quốc tộ – Pháp Thuận)

Và có khi yêu nước là nhớ nhà, nhớ quê da diết, là nỗi khao khát trở về khi ở nơi đất khách:

Lão tang diệp lạc tàm phương tận,

Tảo đạo hoa hương giải chính phì.

Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo,

Giang Nam tuy lạc bất như quy.

(Dâu già lá rụng tằm vừa chín,

Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo.

Nghe nói ở nhà dẫu nghèo vẫn tốt,

Đất Giang Nam tuy vui cũng chẳng bằng về nhà.)

Gắn liền với hiện thực về lòng yêu nước là tỉnh thần nhân văn, là tư tưởng nhân nghĩa lớn lao. Trong Bạch Đồng giang phú, Trương Hán Siêu đã khẳng định, đẻ cao con người, đạo lí chính nghĩa, qua nỗi niềm cảm khái trước cảnh sông Bạch Đằng trong hiện tại. Tác giả phân tích khá thấu đáo về ba yếu tố làm nên sự thắng lợi của một cuộc chiến (thiên thời, địa lợi, nhân hoà) và đi đến kết luận: Trời cho ta thế hiểm, nhưng điều quyết định là ta có nhân tài giữ cuộc điện an:

Giặc tan muôn thuở thanh bình.

Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.

Đến Nguyễn Trãi, tỉnh thần nhân văn được thể hiện thành tư tưởng nhân nghĩa lớn lao, xuyên suốt Bình Ngô Đại Cáo. Tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện ngay trong những câu văn đầu tiên:

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo .

 

Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa là yên dân, là thương dân, yêu dân coi dân như con, nhân nghĩa phải gắn liền với chống xâm lược. Trên lập trường nhân bản, bài Cáo đã vạch trần tội ác tày trời của giặc, tuyên cáo về tội ác trời biển không thể dung thứ của quân Minh:

– Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vài con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,a

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Nhân nghĩa trở thành đường lối, trở thành kế sách đánh giặc tâm công, để đội quân điếu phạt trừng trị kẻ thù:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Và nhân nghĩa còn là sự khoan dung đối với quân giặc khi chúng ở thế cùng:

Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc;

Vương Thông, Mã Anh, phút cho vài nghìn cỗ ngựa, uê đến nước mà  vẫn tim đập chân run.

Thế nên có thể thấy yêu nước và nhân đạo đã trở thành những tư tưởng lớn trong văn học trung đại. Có lẽ khi viết những dòng thơ trên kia, Huy Cận đã xuất phát từ chính các sáng tác trên đây để nhận định một cách chính xác và tài hoa về nội dung thơ văn Việt Nam nói chung và thơ văn thời kì trung đại nói riêng. Cảm nhận đó cũng chính là nền tảng cơ sở để nhà thơ và những thế hệ đi sau sẽ nối tiếp những nội dung tiêu biểu của văn học đất nước Nam. Hãy lựa chọn một vài tác phẩm tiêu biểu để làm sáng tỏ đặc điểm đó.

Xem thêm các bài viết của tác giả Nguyễn TrãiNguyễn Du

Viết một bình luận